Shakespear và những quy tắc đầu tư vàng

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013
Posted by ha thanh tung
Polonius, quân sư của Đức vua trong tác phẩm Hamlet, một nhân vật phản diện, nhưng không hiểu sao Shakespear lại ưu ái cho những lời răn dạy của tên đại thần này trở nên đáng nhớ và đáng suy ngẫm.
LTS: Jeremy Grantham, Chủ tịch quỹ đầu tư GMO (Mỹ), là một nhà đầu tư nổi tiếng trong lĩnh vực cổ phiếu, trái phiếu và thị trường hàng hóa. Ông được biết đến với vai trò “nhà tiên tri” của Phố Wall, người đã dự đoán chính xác nhiều cuộc khủng hoảng của thị trường Mỹ nói riêng và thị trường thế giới nói chung. Bài viết dưới đây được trích từ một bức thư ngỏ ra hàng quý mới đây nhất của ông gửi cho các khách hàng (phát hành ngày 24/2/2012). Nguyên bản của bức thư chia làm 3 phần, trong đó phần đầu (tựa đề Investment Advice From Your Uncle Polonius (Lời khuyên từ ông chú Polonius) là những triết lý đầu tư vàng mà Grantham mượn lời nhân vật Polonius của Shakespear để gửi gắm đến độc giả.
-shakespear-va-nhung-quy-tac-dau-tu-vang 
(Phần chú thích đề dưới bức thư có đoạn như sau: Polonius, quân sư của Đức vua trong tác phẩm Hamlet, một nhân vật phản diện rõ ràng với đủ các tính xấu như hay tâng bốc, xu nịnh, ngạo mạn, hống hách. Tuy nhiên, không hiểu sao Shakespear lại ưu ái cho những lời răn dạy của tên đại thần này trở nên đáng nhớ và đáng suy ngẫm. Danh sách quy tắc dưới đây gói gọn trong lời khuyên nhủ của Polonius dành cho cậu con trai Laertes trước khi lên tàu rời Đan Mạch đi Pháp.)
Do bức thư khá dài nên chúng tôi chỉ gom lại những ý chính và lược bớt những phần hơi lan man. Bạn có thể vào trang web của GMO để tìm đọc toàn bộ nội dung tiếng Anh.
 
1. Tin vào lịch sử phát triển
"Thị trường thường bất kham đến lạ kỳ, nó cứ lang thang ở đâu đó thật xa nhưng chán chê rồi cuối cùng vẫn lại quay về giá trị thực, sau một hồi làm tim ta tan nát và ý chí ta thui chột. Vì thế, việc ta phải làm là sống sót cho đến khi điều tất yếu xảy ra".
 
2. Đừng cho ai vay mượn, cũng đừng vay mượn ai
"Nếu bạn vay tiền để đầu tư, nguy cơ chết yểu của bạn sẽ cao hơn bởi người cho vay có thể đòi tiền của họ bất cứ lúc nào. Hơn nữa, đầu tư bằng cách đi vay sẽ làm tiêu hao một tài sản cực kỳ quan trọng của nhà đầu tư: sự kiên nhẫn”
 
3. Đừng cho hết vàng bạc lên một chuyến tàu
"Đầu tư nhiều chỗ khác nhau, càng nhiều càng tốt, sẽ giúp bạn chống chọi và vượt qua những cú sốc. Nếu bạn đặt cược tất cả vào một chỗ, bạn sẽ khó mà gượng dậy nổi nếu có tình huống xấu xảy ra.
 
4. Hãy kiên nhẫn và tập trung đầu tư cho dài hạn
"Nếu bạn chờ, chờ và chờ cho đến khi thị trường (cổ phiếu) xuống thật thấp thì hệ số an toàn của bạn sẽ là lý tưởng và khoản đầu tư của bạn sẽ thành công trên cả tuyệt vời. Các cổ phiếu riêng lẻ còn có ngoại lệ nhưng chung cả thị trường thì không thể không có lúc phục hồi. Vì vậy, nếu bạn theo đúng các nguyên tắc trước (đầu tư nhiều loại cổ phiếu, không vay mượn và tin vào lịch sử) thì dù có rắc rối xảy ra bạn cũng sẽ vẫn sống sót."
 
5. Thấy được lợi thế của mình so với dân có nghề
"Với dân ‘máu mặt’ trong đầu tư, vấn đề lớn nhất của họ là làm sao giữ được nghề, tránh những rủi ro có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp và công việc kinh doanh. Một điều bất hạnh nữa là họ lúc nào cũng phải ‘sôi sùng sục’ để người khác thấy mình bận rộn, giỏi giang đúng kiểu dân chuyên. Còn với tư cách là một người bình thường, bạn không việc gì phải nôn nóng, sốt ruột như dân nhà nghề. Hãy cứ thoải mái mà chờ thời cơ của mình và phớt lờ những gì mà người khác làm.
 
6. Cố gắng kìm nén sự lạc quan nhất thời
"...lạc quan cũng có mặt trái của nó, nhất là với những nhà đầu tư: những người lạc quan thì thường không muốn nghe tin bất lợi…Thêm nữa, người thường dễ giữ được sự bình thản hơn dân trong nghề bởi họ không phải tiếp nhận đủ loại thông tin mỗi ngày (đó là chưa kể những lời ‘khó nghe’ của một vị khách hàng nóng tính nào đó). Không dễ nhưng đỡ hơn”.
 
7. Hãy dũng cảm khi cần
"Bạn có thể đặt cược nhiều hơn dân chuyên khi cơ hội có một không hai đến với bạn bởi khi có chuyện xảy ra bạn không có nhiều thứ để mất như họ - khách hàng, công việc làm ăn. Vì thế khi số liệu cho thấy thị trường đang nằm dưới giá trị của nó, hãy nghiến răng và xông lên chớp thời cơ”
 
8. Chỉ tin vào con số chứ không chạy theo số đông
"Ngồi án binh bất động mà nhìn dân tình phất lên khi bong bóng thị trường sắp vỡ quả là một sự tra tấn. Cách tốt nhất để kìm chế mình là tự ngồi tính toán và tìm nguồn phân tích tin cậy để tra cứu thường xuyên. Hãy bỏ qua những thông tin ngắn hạn: sự thay đổi liên tục của những thông tin kinh tế, chính trị chẳng liên can đến bạn đâu.
Giá trị cổ tức trong tương lai mới quyết định giá trị cổ phiếu và phải mất vài chục năm lợi nhuận mới đổ về. Những cú tuột dốc ngắn hạn của nền kinh tế về lâu dài sẽ không ảnh hưởng nhiều đến từng doanh nghiệp riêng lẻ chứ chưa nói đến những tài sản tài chính mà bạn phải tập trung vào. Hãy nhường những bài toán phức tạp lại cho dân chuyên, cứ để cho họ tốn tiền của và công sức giải mã chúng.
 
9. Rốt cục thì mọi thứ đều rất đơn giản. Thật đấy
"GMO dự báo các khoản đầu tư tài chính sẽ cứ thế mà phục hồi một cách mạnh mẽ: điều đơn giản và chắc chắn là biên lợi nhuận, hệ số P/E sẽ quay trở lại mức trung bình dài hạn trong 7 năm nữa kể từ bây giờ. Chúng tôi đã nghiên cứu điều này từ năm 1994 và đưa ra 40 dự báo quý (mới đầu là dự báo 10 năm và bây giờ là 7 năm). Tất cả 40 dự báo đó đều đã chính xác đến bất ngờ."
 
10. Nhưng có điều này quan trọng hơn cả: phải thành thực với mình
"Để có thể đầu tư một cách hiệu quả về phương diện cá nhân, bạn nhất thiết phải nắm được mặt mạnh mặt yếu cũng như những hạn chế của mình. Nếu bạn kiên nhẫn và không bị đám đông chi phối, nhiều khả năng bạn sẽ thành công. Nhưng chưa thành công mà đã nghĩ mình sẽ thành công và chọn một hướng đi sai lầm do bị “đám đông hóa”, bạn chắc chắn sẽ rơi vào thảm họa. Bạn phải biết ngưỡng chịu đựng và sự kiên nhẫn của mình để không làm gì vượt quá khả năng. Nếu không cưỡng được cám dỗ, bạn tuyệt đối KHÔNG ĐƯỢC PHÉP quản lý tiền của mình mà phải giao người khác trông nom hộ”.
Theo kienthuckinhte

Bài viết dưới đây là chia sẻ của TS Đào Xuân Khương về các giải pháp để "tái cấu trúc kênh phân phối hiện tại" đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm giúp gia tăng dòng tiền, giảm tồn kho trước mắt, tiến tới tiêu chuẩn hóa hệ thống phân phối trong tương lai.
 -tai-cau-truc-kenh-phan-phoi-hien-tai
Cuối năm 2011, các con số thống kê khiến người ta không khỏi nản lòng: gần 50.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa tuyên bố phá sản hoặc ngừng hoạt động, hàng vạn doanh nghiệp thua lỗ, hàng nghìn doanh nghiệp có lợi nhuận trên vốn đầu tư thấp hơn gửi tiền vào ngân hàng, hầu hết các doanh nghiệp gặp khó khăn trong vốn lưu động đang cần sự trợ giúp từ hệ thống tài chính
 
Gánh nặng đè lên kênh phân phối
Ông Đào Xuân Khương
Đã tốt nghiệp thạc sĩ quản trị kinh doanh, hiện đang làm nghiên cứu sinh tiến sĩ về bán lẻ hiện đại. Ông Khương nghiên cứu bán lẻ hiện đại tại Đức và marketing tại Mỹ. Ông đã từng là Giám đốc điều hành Melinh Plaza, Giám đốc kinh doanh Tập đoàn Phú Thái, Giám đốc bán hàng khu vực của P&G... Ông Khương hiện là Chủ tịch HĐQT Công ty KCP - tư vấn chuyên về giải pháp phân phối.
 
Các số liệu công bố của Bộ Công Thương những tháng đầu năm 2012 cho thấy, khó khăn vẫn tồn tại, không chỉ trong nội tại doanh nghiệp mà còn do rất nhiều thách thức đến từ bên ngoài.
 
Sức mua của người tiêu dùng giảm rõ rệt cả trước và sau Tết, không như kỳ vọng của các doanh nghiệp. Điều này không những phản ánh việc giảm bớt chi tiêu do thu nhập giảm đi của một bộ phận lớn dân cư do ảnh hưởng của lạm phát mà còn xuất phát từ tâm lý lo lắng về những biến động kinh tế và thu nhập của mình trong tương lai.
Điều tất yếu sẽ xảy ra với doanh nghiệp vào những tháng đầu năm 2012 là lượng hàng tồn kho. Điều này càng trở nên trầm trọng với các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi mà hệ thống phân phối trước đây chỉ chủ yếu tập trung vào một số khu vực kinh doanh thuận lợi, phù hợp với năng lực của doanh nghiệp.
 
Đối tượng khách hàng chủ yếu là khách hàng sỉ, các đại lý bán buôn. Việc bán hàng của doanh nghiệp chủ yếu thông qua một số "mối ruột" ở các tỉnh. Bên cạnh đó, lực lượng bán hàng của doanh nghiệp mỏng, việc bán hàng phần lớn được thực hiện qua một vài nhân viên chủ chốt, liên hệ với khách hàng chủ yếu qua điện thoại… Ít khi có sự tiếp xúc trực tiếp giữa doanh nghiệp và các thành viên trong kênh phân phối của mình.
 
Do hầu hết tập trung vào một số khách hàng lớn và có quen biết trong một thời gian dài trước đây, doanh nghiệp thường bị phụ thuộc vào họ. Hầu như doanh nghiệp không có thông tin trực tiếp từ người tiêu dùng.
 
Chính vì những lí do đó, không những việc điều hành, quản lý công tác bán hàng gặp khó khăn mà việc thu thập thông tin để xây dựng chính sách bán hàng cho phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp và tạo ra lợi thế đối với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp cũng là một thách thức lớn.
 
Hệ quả từ những khó khăn
Một khi không nắm bắt được tình hình thị trường trong khu vực phân phối hàng hóa của mình, các chính sách kinh doanh được xây dựng chủ yếu dựa theo cảm tính và "bốc thuốc" của chủ doanh nghiệp hoặc sao chép một số doanh nghiệp nước ngoài. Không có sự phân vùng, phân tuyến địa bàn hoạt động dẫn tới nhiều mâu thuẫn giữa các đại lý về giá cả và hàng hóa bán từ vùng nọ sang vùng kia. Nhân sự kinh doanh vừa thiếu và yếu nên không đủ năng lực triển khai các ý tưởng, các chiến lược từ doanh nghiệp.
 
Đồng thời việc quản lý công việc hàng ngày và lưu trữ hệ thống báo cáo của đội ngũ bán hàng không được duy trì và kiểm soát chặt chẽ… Tất cả những điều này xảy ra trong một thời gian dài không được giải quyết càng làm cho doanh nghiệp lúng túng khi gặp phải những thách thức lớn từ bên ngoài như trong năm 2011.
 
Sự việc trở lên căng thẳng hơn khi sức mua của người tiêu dùng giảm đi, các thành viên trong kênh phân phối trước đây của các doanh nghiệp lại chủ yếu là các đại lý và bán sỉ tại các tỉnh. Các đại lý này cũng chủ yếu bán hàng nhờ vào các mối quan hệ trước đây với các đại lý tại các huyện và lân cận. Khi gặp khó khăn từ sức mua của người tiêu dùng, hiệu ứng dây chuyền bắt đầu xảy ra.
 
Các đại lý ở các huyện không bán được hàng, lượng hàng tồn kho tăng lên, họ không tiếp tục nhập hàng mới, dẫn tới hàng tồn kho của các đại lý tại các tỉnh tới các nhà sản xuất đều tăng lên, trong khi đó một lượng lớn sản phẩm đã sản xuất ra phục vụ cho nhu cầu các tháng trước và sau Tết của các doanh nghiệp tiếp tục phải nằm lại trong kho.
 
Bên cạnh đó, một lượng lớn nguyên vật liệu được nhập về trước đó để phục vụ sản xuất cho các tháng sau tết sẽ được nằm ở kho nguyên vật liệu. Như vậy có thể thấy, các kho hàng từ đại lý cấp huyện, cấp tỉnh, các kho của nhà sản xuất đều đầy, các kho nguyên vật liệu cũng đầy, chỉ có túi tiền của các công ty là "rỗng".
Trong khi đó, các khoản vay của các doanh nghiệp để phục vụ sản xuất chỉ chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn. Dòng tiền về của doanh nghiệp thì không có, trong khi đó các dòng tiền ra của doanh nghiệp để trả cho cơ quan nhà nước, ngân hàng, trả cho nhân viên thì cứ chảy theo định kỳ…
 
Vậy các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần phải làm gì để giải quyết tình trạng "kho thì đầy, quỹ thì rỗng"?
Để giải bài toán này, cần nhìn vào việc xây dựng và phát triển kênh phân phối - một mắt xích quan trọng để "tăng dòng tiền mặt" và "giảm tồn kho" cho doanh nghiệp.
 
Trong các bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ tiếp tục chia sẻ với độc giả những điều cần biết để thiết kế kênh phân phối, những gợi ý giúp doanh nghiệp xây dựng đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn...
Theo TS Đào Xuân Khương

Hầu hết các nhà phân tích và đầu tư tại thị trường Phố Wall có xu hướng dựa vào tỉ suất lợi nhuận trên vốn sở hữu như là một thước đo chính hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhiều nhà quản lý điều hành cũng dựa quá nhiều vào thước đo này, nhận ra rằng đó là một thước đo mà dường như được cộng đồng các nhà đầu tư quan tâm nhất. Nhưng đó có phải là thước đo tốt nhất không?
thuoc-do-hieu-qua-kinh-doanh-cua-doanh-nghiep
Mặc dù các kỹ thuật tính toán khá phức tạp như mô hình IRR (Internal Rate of Return – tỉ suất hoàn vốn nội bộ), CFROI (Cash Flow Return on Investment – dòng tiền tệ trên suất thu hồi), và DCF (dòng tiền chiết khấu – Discounted Cash Flow) đã tồn tại từ lâu, nhưng mô hình ROE (tỉ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu) đã cho thấy là ổn định hơn cả. Ở một mức độ, điều này là có ý nghĩa. Mô hình ROE dựa vào tỉ suất lợi nhuận dành cho các cổ đông của công ty. Nếu bạn là một cổ đông, với mô hình này bạn sẽ có một thước đo nhanh và dễ hiểu.
Nhưng mô hình ROE có thể che lấp khá nhiều vấn đề tiềm ẩn. Nếu các nhà đầu tư không thận trọng, nó có thể làm sai lệch các nguyên tắc cơ bản của kinh doanh và dẫn đến những điều bất ngờ khủng khiếp. Các công ty có thể phải dùng đến các chiến lược tài chính để duy trì giả tạo một tỉ suất ROE tốt – trong một thời gian – và che giấu hiệu quả kinh doanh đang đi xuống theo các nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh. Mức đầu tư dư nợ đang tăng lên và việc mua lại cổ phiếu bằng hỗ trợ từ nguồn tiền mặt tích trữ có thể giúp duy trì tỉ suất ROE của công ty thậm chí ngay cả khi mức lợi nhuận hoạt động đang bị giảm sút.

Áp lực cạnh tranh đang tăng cao cộng với lãi suất thấp giả tạo, là đặc trưng của vài thập kỷ nay, đã tạo ra động lực có uy lực lớn để gắn kết các chiến lược này nhằm ổn định tâm lý của các nhà đầu tư.
Mức đầu tư dư nợ quá tải trở thành một gánh nặng cho công ty khi nhu cầu thị trường cho loại sản phẩm của công ty đang có xu hướng nam tiến, khi nhiều công ty phát hiện ra trong thời buổi kinh tế suy thoái hiện nay. Nó thực sự tạo ra nhiều rủi ro cho một công ty trong thời buổi khó khăn.

Những nỗ lực này có thể trở thành một niềm say mê. Nếu mức lợi nhuận bị ảnh hưởng tiếp tục suy giảm, thì mức đầu tư dư nợ hoặc mua lại cổ phiếu nhiều hơn là cần thiết để duy trì tỉ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu, tăng thêm khả năng chống chọi của công ty với các cuộc suy thoái không được dự đoán trước về nhu cầu người tiêu dùng hoặc các cuộc khủng hoảng thị trường tài chính. Nhưng để cho tỉ suất ROE giảm thông thường quá khó khăn để suy ngẫm bởi vì ảnh hưởng đối với hoạt động của thị trường chứng khoán có thể xảy ra tức thì. Các nguy cơ còn lại thì ít xảy ra ngay lập tức và ít định lượng được, do đó có một sức hấp dẫn có thể hiểu được để tránh nỗi đau trước mắt này.
Những vấn đề đối với tỉ suất ROE đã dẫn chúng tôi đến việc sử dụng một thước đo cốt yếu hoàn toàn khác để đo lường hiệu quả tài chính doanh nghiệp khi chúng tôi viết cuốn sách Shift Index vào năm ngoái. Chúng tôi dựa vào một thước đo vốn nhận được khá ít sự quan tâm của các nhà quản lý cao cấp và các nhà đầu tư giống như – tỉ suất lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA) – để phân tích xu hướng phát sinh lợi nhuận dài hạn ở hầu khắp các công ty cổ phần ở Hoa Kỳ.

Tỉ suất lợi nhuận ròng trên tài sản tránh được những bóp méo có thể có do các chiến lược tài chính tạo ra giống như được đề cập ở phần trên.
Đồng thời, ROA là một thước đo tình trạng tài chính tốt hơn so với các cách thức đo lường lợi nhuận kết quả kinh doanh như là tỉ suất lợi nhuận trên doanh số bán hàng.
Rõ ràng là, chỉ số ROA có tính đến số lượng tài sản được sử dụng để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh. Chỉ số này xác định liệu công ty có thể tạo ra một tỉ suất lợi nhuận ròng đủ lớn trên những tài sản của mình hơn là chỉ đơn giản cho thấy tỉ suất lợi nhuận lớn trên doanh số bán hàng. Các công ty sở hữu nhiều tài sản cần một mức thu nhập ròng cao hơn để hỗ trợ hoạt động kinh doanh so với các công ty sở hữu ít tài sản khi đó mức lợi nhuận nhỏ này có thể sinh ra một tỉ suất lợi nhuận ròng trên tài sản khá ổn định.

Nhiều công ty sử dụng nguồn lực bên ngoài cho quy trình sản xuất dựa trên tài sản là chính và hoạt động lo-gis-tic từ nhiều nhà cung cấp chuyên môn hoá hơn nhằm cố gắng tạo ra kiểu kinh doanh “ít dựa vào tài sản”. Những tài sản này không phải đã biến mất – chúng chỉ đơn giản chuyển dịch từ công ty này sang công ty khác. Một ai đó phải kiếm được một số lợi nhuận hợp lí từ việc đầu tư những tài sản này. Thậm chí về bản chất các ngành kinh doanh “ít dựa vào tài sản” có một số tài sản dễ thanh khoản rất hạn chế và tài sản cố định cần có để hỗ trợ việc kinh doanh.
Sử dụng chỉ số ROA như là một thước đo hiệu quả chính đã nhanh chóng thu hút được sự chú ý của các nhà quản lý vào các tài sản cần thiết để duy trì hoạt động kinh doanh. Các nhà quản lý cao cấp ngày nay có nhiều tự do hơn đối với việc quản lý nguồn lực bên ngoài của những tài sản này và các hoạt động kinh doanh có liên quan đối với các công ty chuyên môn hoá hơn.

Câu hỏi chính ở đây là: ai ở vào vị trí tốt nhất để kiếm được mức lợi nhuận cao nhất trên những tài sản này. Câu hỏi này giúp các nhóm quản lý tập trung hoạt động của chính họ nhiều hơn vào các hoạt động và tài sản mà họ có khả năng quản lý tốt nhất và chuyển dịch các hoạt động và tài sản khác cho các công ty chuyên môn hoá hơn.
Tồn tại một dạng khác mạnh mẽ hơn của đòn bẩy tài chính – đòn bẩy năng lực. Như đã nói ở phần trên, sử dụng quá nhiều đòn bẩy tài chính sẽ trở thành một gánh nặng lớn và không thể thoát nổi trong cơn suy thoái kinh tế. Đòn bẩy năng lực, ngược lại, có tác dụng hỗ trợ công việc kinh doanh ở tất cả các giai đoạn của chu kỳ kinh tế.

Các nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài chuyên môn hoá, do quy mô và sự đa dạng của hoạt động, có thể cung cấp các tài sản và năng lực chính một cách nhanh chóng và có lợi hơn để giúp các công ty đứng dậy nhanh chóng trong cơn suy thoái kinh tế. Việc sắp xếp sử dụng nguồn lực bên ngoài với chi phí biến đổi giúp lấy lại quy mô sản xuất sau cơn suy thoái.
Đòn bẩy tài chính luôn sẵn có giúp làm cho cổ tức dành cho cổ đông cao hơn, dẫn đến nhiều công ty bỏ qua tiềm năng của đòn bẩy năng lực.

Xu hướng ROA dài hạn làm tăng thêm tầm quan trọng của các lựa chọn nâng cao khả năng. Cuốn sách Shift Index của chúng tôi cho thấy rằng từ năm 1965 tất cả các công ty cổ phần ở Hoa Kỳ đã trải qua sự sụt giảm kéo dài và nghiêm trọng về chỉ số ROA – giảm xuống đến 75%. Các áp lực kinh tế leo thang phần lớn che khuất bởi các thước đo và khung thời gian chúng ta sử dụng. Điều này không chỉ phản ánh cuộc suy thoái kinh tế hiện tại. Các xu hướng dài hạn đưa ra các cách thức truyền thống tiếp cận với kinh doanh về cơ bản đã bị phá vỡ. Hạn định này đang xảy ra bất chấp sự dịch chuyển sang các hoạt động kinh doanh ít liên quan đến tài sản và sự vắng mặt của một tài sản vô cùng quan trọng trong bảng cân đối tài chính – năng lực của lực lượng lao động.

Không một thước đo nào là hoàn hảo và các thước đo khác nhau là thích hợp tuỳ thuộc vào từng trường hợp. Nhưng việc chúng dựa quá nhiều vào chỉ số ROE chính là một vấn đề khó giải quyết ở nhiều mức độ. Chỉ số ROA có thể giúp chúng ta có cái nhìn tốt hơn về những điều cơ bản trong kinh doanh, bao gồm các việc sử dụng tài sản. Khi sức ép kinh tế tăng lên, các nhà quản lý cao cấp sẽ được tư vấn cần đặt ra câu hỏi: những tài sản nào chúng ta duy nhất có khả năng quản lý? Và chúng ta có thể để người nào đó sở hữu và quản lý phần tài sản còn lại, trong khi chúng ta tập trung vào những điểm mạnh duy nhất của mình?

Bạn nghĩ thế nào? Đâu là các thước đo lường hiệu quả nhất để đo lường hiệu quả tài chính ở mức thấp nhất? Đâu là ngụ ý của các xu hướng ROA dài hạn? Các công ty có đủ mạnh để theo đuổi đòn bẩy tài chính năng lực? Nếu không, điều gì kéo họ ngược trở lại?

Chiến lược đại dương xanh

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012
Posted by ha thanh tung

Thương trường trong "Chiến lược đại dương xanh" không phải là nơi diễn ra sự cạnh tranh đối đầu khốc liệt, mà là sự cạnh tranh bằng trí tuệ, tạo ra những điều chưa ai làm hoặc nghĩ đến - đó là nội dung chính của cuốn sách đang là best seller ở nước ngoài được Cty Future One giới thiệu tại VN. Trong cuốn sách của mình, Chan Kim và Renee Mauborgne đã đưa ra một khái niệm mới: "Chiến lược đại dương xanh", nghĩa là tìm riêng cho mình một con đường để thoát ra khỏi đại dương đỏ vốn chứa đầy cạnh tranh khốc liệt bằng cách tìm ra khoảng trống thị trường.
 Chien luoc dai duong xanh
Vẽ lại thị trường
Trên thế giới, những thương hiệu đi vào "đại dương xanh" đều rút ra quy luật, dù đến sau vẫn có thể chiếm lĩnh thị trường mà không phải "đối đầu" khốc liệt.
 
Lấy ví dụ của Cirque de Soleil, hơn 20 năm trước, không ai có thể nghĩ rằng Guy Laliberte (một nghệ sĩ chơi đàn accordeon và biểu diễn cà kheo) lại có thể trở thành TGĐ của Cirque de Soleil - một trong những tập đoàn XK văn hóa lớn nhất Canada. Trong 20 năm, doanh số của đoàn xiếc này đã đạt mức mà hai đoàn xiếc hàng đầu thế giới là Ringing Bros và Banum& Bailey phải mất một trăm năm mới đạt được. Bí quyết của họ là gì? Đó là hình thành những chương trình xiếc có chủ đề, tạo nên một môi trường học thức với các yếu tố âm nhạc và vũ điệu nghệ thuật. Các chương trình của đoàn mang bóng dáng của cả loại hình balê, kịch, nhưng lại có bản sắc riêng. Họ đã tạo nên một đại dương xanh với khoảng thị trường trống vắng không thuộc ngành nào trong tất cả các ngành nghệ thuật đang tồn tại.
 
Tìm khoảng trống
Một trong những DN VN tâm đắc nhất với "đại dương xanh" phải kể đến GS - TS Lý Quý Trung - TGĐ Tập đoàn Nam An - Cty Phở 24. Theo ông Trung, “đại dương xanh” là những người đi tiên phong. Tuy nhiên, "do Luật Sở hữu trí tuệ tại VN chưa đủ mạnh, nên khi DN vừa bước chân vào đại dương xanh đã lập tức trở thành đại dương đỏ. Do đó, nếu đã bước được chân vào đại dương xanh, DN phải chuẩn bị đầy đủ "vũ khí, suy nghĩ, rào cản của đại dương đỏ", và "bơi càng xa càng tốt" để tạo khoảng cách với người theo sau - ông Trung nhấn mạnh.
Còn ông Phạm Đình Đoàn - TGĐ tập đoàn Phú Thái cho rằng: muốn bước chân vào "đại dương xanh", DN nên chuyển đối thủ thành đối tác. Thay vì một cuộc chiến, Phú Thái, Satra, Hapro và SaiGon Co.op liên kết xây dựng mạng lưới trung tâm thu mua, thương mại, siêu thị trên toàn quốc"... đế chống lại đối thủ ngoại.
"Đại dương xanh" luôn tạo cơ hội cho các DN - không phân biệt loại hình, muốn chinh phục thị trường bằng sức mạnh của trí tuệ phù hợp với điều kiện thực tế!
 
Bốn mô hình để xây dựng chiến lược Đại Dương Xanh: giảm bớt những yếu tố thấp hơn tiêu chuẩn chung trong ngành; gia tăng những yếu tố cần cao hơn tiêu chuẩn chung; loại bỏ những yếu tố thừa và hình thành những yếu tố mới.
 
Theo DDDN

5 lời khuyên cho các CEO

Thứ Sáu, 29 tháng 10, 2010
Posted by ha thanh tung
Xây dựng thương hiệu | CEO là hình ảnh đại diện cho công ty, đó là điều tuyệt vời nhất. Tuy nhiên để thành công trong mọi lĩnh vực họ cũng phải có những triết lý riêng của mình
 Trao đổi với tờ Forbes, ông Dan Schawbel, một chuyên gia uy tín về lĩnh vực thương hiệu cá nhân ở Mỹ, đã đưa ra 5 lời khuyên cho các CEO để giải quyết thách thức này.
xaydungthuonghieu
 
1. Tạo ra và sở hữu một thương hiệu của riêng mình.
 
Những CEO giỏi nhất có khả năng dùng phẩm chất cá nhân thực thụ để thu hút sự chú ý của công chúng cho doanh nghiệp của họ.
 
Chẳng hạn, Steve Jobs của Apple được biết đến như một CEO cứng rắn đối với nhân viên, có những bài thuyết trình đầy năng lượng và là một người theo đuổi chủ nghĩa hoàn hảo. Đó là những phẩm chất cho biết Jobs là ai, và Jobs cũng không hề cố tỏ ra là mình có những phẩm chất đó. Một thương hiệu cá nhân của CEO giúp tạo ra sức hút đối với người tiêu dùng và khiến họ quan tâm hơn tới sản phẩm và dịch vụ của công ty.
 
2. Tạo ra quyền năng cho cấp dưới.
 
Nếu CEO cho phép nhân viên chia sẻ cởi mở thông điệp của CEO với công chúng, CEO có thể sẽ mất dần đi quyền kiểm soát, nhưng cái đạt được lại là một lực lượng đại sứ thương hiệu hùng hậu.
 
Tony Hsieh, CEO của hãng bán lẻ trực tuyến Zappos, là một ví dụ điển hình về việc khuyến khích mọi nhân viên có tài khoản Twitter và kết nối với khách hàng. Hsieh muốn khách hàng trải nghiệp thương hiệu Zappos thông qua chính những con người làm việc cho Zappos. Mỗi nhân viên đều có quyền lợi trong thành công của CEO, bởi thế tốt hơn hết là CEO nên tạo ra quyền năng cho nhân viên, thay vì kìm hãm họ.
 
3. Tận dụng tối đa chức danh của bản thân.
 
Giới truyền thông muốn trò chuyện với CEO của các công ty hơn bất kỳ ai khác trong các công ty đó. Bởi vậy, CEO được khuyến nghị là nên sử dụng chức danh của mình để quảng bá doanh nghiệp ở mức nhiều nhất có thể.
 
Một ví dụ về CEO biết tận dụng chức danh và thương hiệu uy tín của bản thân là CEO Howard Schultz của hãng cà phê Starbucks. Schultz đã viết nhiều cuốn sách và bài báo nói về mọi vấn đề, từ nền kinh tế, tới chính trị, và công việc làm ăn của ông. Cách làm này khiến công chúng luôn quan tâm tới những gì ông nói.
 
4. Xây dựng một đội ngũ nhân viên mạnh.
 
Lãnh đạo doanh nghiệp khó có thể thành công nếu không có một hệ thống hỗ trợ mạnh. Việc cách tuyển dụng và đào tạo những ngôi sao sáng trong lĩnh vực hoạt động của công ty sẽ tạo ra sự khác biệt.
 
Trong thời gian đảm nhiệm chức CEO của Google, Eric Schmidt đã phát triển nhiều nhân tài trong “đế chế” tìm kiếm này, bao gồm Marissa Mayer, người hiện đang đứng đầu các dịch vụ định vị. Giờ thì Schmidt có thể “rảnh tay” tập trung vào nhiệm vụ thúc đẩy công ty tiến lên phía trước, vì những cấp dưới tài năng thừa sức giúp ông có một hình ảnh tốt trong mắt công chúng.
 
5. Trở thành một người đi đầu về các ý tưởng (thought leader).
 
Càng giới thiệu rộng rãi được các ý tưởng của mình bao nhiêu, một vị CEO càng chuẩn bị được tư thế sẵn sàng để thu được lợi ích từ các ý tưởng đó bấy nhiêu.
 
Tỷ phú Anh quốc Richard Branson là một trường hợp tiêu biểu về một vị CEO biết sử dụng công cụ truyền thông cho hoạt động của công ty mình. Branson có nhiều bài viết đăng trên tạp chí doanh nhân Entrepreneur Magazine và thường xuyên được báo này phỏng vấn. Nhờ đó, ông truyền tải được các thông điệp của mình và khiến thị trường phải “lên dây cót” cho những gì sắp xảy ra.
Welcome to My Blog

XEM NHIỀU NHẤT

TỶ GIÁ VÀ THỜI TIẾT


Tổng số lượt xem trang

- Copyright © NGÔI NHÀ MƠ ƯỚC -Robotic Notes- Powered by Blogger - Designed by Johanes Djogan -